Ứng dụng liệu pháp gia đình trong trị liệu rối loạn trầm cảm - RongViet Education

Tạp chí Tâm lý học Việt Nam, số 9. Tháng 9-2021 47 

ỨNG DỤNG LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH 

TRONG TRỊ LIỆU RỐI LOẠN TRẦM CẢM:  

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VỊ THÀNH NIÊN 

Đỗ Hoàng Phúc - Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP. HCM

Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Viện nghiên cứu và ứng dụng Tâm lý - Âm ngữ trị liệu 

TÓM TẮT 

Trong phương pháp tiếp cận hệ thống gia đình, các vấn đề tâm lý được  xem là bắt nguồn từ hệ thống gia đình có rối loạn chức năng, chứ không phải  là trong bản ngã cá nhân. Để mang lại sự thay đổi lâu dài cho một cá nhân,  gia đình cũng cần thay đổi. Một cách tiếp cận quan trọng để thay đổi gia đình 

là liệu pháp gia đình, trong đó toàn bộ các thành viên trong gia đình được  tham gia các buổi trị liệu. Bài báo này trình bày một nghiên cứu trường hợp,  nhằm minh họa khả năng đáp ứng hiệu quả của quá trình ứng dụng liệu pháp  gia đình kết hợp vào quá trình trị liệu tâm lý để cải thiện các triệu chứng trầm  cảm nổi bật.  

Từ khóa: Liệu pháp gia đình; Rối loạn trầm cảm; Vị thành niên

Ngày nhận bài: Tháng 7/20221; Ngày duyệt đăng bài: 20/8/2021 

1. Đặt vấn đề 

Liệu pháp gia đình vừa là một lý thuyết, vừa là một phương pháp trị liệu.  Liệu pháp này giúp nhà lâm sàng nhìn nhận các vấn đề tồn tại trong bối cảnh  tương tác giữa các thành viên trong gia đình. Bên cạnh đó, liệu pháp gia đình còn đưa ra một hình thức can thiệp, đó là các thành viên trong gia đình được  hỗ trợ để nhận diện và điều chỉnh các kiểu quan hệ kém thích nghi, lặp đi lặp  lại kéo dài gây ra vấn đề, cũng như thay đổi hệ thống niềm tin hạ thấp bản thân  hay niềm tin thất bại.  

Không giống như các liệu pháp cá nhân khác, trong liệu pháp gia đình, vấn đề của thân chủ không chỉ là vấn đề mang tính cá nhân, xuất phát từ cá  nhân thân chủ và chỉ cần cá nhân thân chủ thay đổi thì sẽ giải quyết được vấn  đề, mà là những vấn đề khó khăn trong các mối quan hệ trong nội bộ gia đình hoặc giữa gia đình và cộng đồng như là nguyên nhân gây ra và duy trì hành vi  kém thích ứng của thân chủ. Chỉ khi cải thiện được các mối quan hệ này thì  thân chủ mới có tiến triển trong trị liệu. Hỗ trợ gia đình thay đổi sẽ giúp cải  thiện bầu không khí và chức năngcủa gia đình nói chung cũng như cuộc sống  của từng thành viên trong gia đình nói riêng. Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý lâm sàng đã áp dụng tiếp cận hệ sinh thái, hướng những nỗ lực trị liệu nhắm vào việc mở rộng bối cảnh để hiểu chức năng vận hành của gia  đình: xem xét đa dạng các khía cạnh cá nhân, gia đình và cộng đồng văn hóa xung quanh (Robbins, Mayorga và Szapocznik, 2003). 

Liệu pháp tâm lý gia đình là một kỹ thuật trị liệu tập trung vào các mối  quan hệ trong gia đình. Liệu pháp gia đình tác động đồng thời tới thân chủ và  gia đình họ. Liệu pháp gia đình là liệu pháp có tính định hướng, bởi nhà trị liệu sẽ đưa ra giải pháp cho sự thay đổi. Đây cũng là giải pháp hỗ trợ rất mạnh,  một chỗ dựa mà gia đình mong muốn có (Cottrell 2002). Các nguyên tắc của  trị liệu gia đình: Xác định vị trí của thân chủ trong gia đình; Tìm hiểu các khối  liên minh và các mối quan hệ tương tác rối loạn trong gia đình; Chứng minh  rằng vấn đề không xuất phát từ cá nhân thân chủ hay một thành viên đơn lẻ 

nào trong gia đình (thân chủ hay các thành viên trong gia đình không bị “điên”), mà chỉ có mối quan hệ trong gia đình bị rối loạn; Tất cả các thành  viên trong gia đình đều tích cực, ngay kể cả khi họ kìm nén sự thay đổi. 

Liệu pháp gia đình đối với bệnh nhân trầm cảm: Trầm cảm điển hình được mô tả bằng sự ức chế toàn bộ các quá trình hoạt động tâm thần biểu hiện bằng 3 triệu chứng đặc trưng sau: Khí sắc trầm: Biểu hiện bằng nét mặt, dáng điệu buồn rầu, ủ rũ. Mất hoặc giảm sự quan tâm thích thú: không quan tâm  

đến mọi việc, không còn ham thích gì kể cả vui chơi. Mất hoặc giảm năng lượng, giảm hoạt động: dễ mệt mỏi không còn sức lực chỉ sau một cố gắng nhỏ. Các triệu chứng phổ biến khác của trầm cảm bao gồm: (1) Mất hoặc khó tập trung chú ý; (2) Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin; (3) Tự cho mình là không xứng đáng, hoặc có ý tưởng bị buộc tội, bị khuyết điểm; (4) Nhìn tương lai ảm đạm, bi quan, đen tối; (5) Có ý tưởng, hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát; (6) Rối loạn giấc ngủ; (7) ăn ít ngon miệng (WHO, 1992; Đại học Y Khoa Thái Nguyên, 2008).  

Trầm cảm kéo dài hoặc tái phát nhiều lần, làm suy giảm đáng kể khả năng làm việc, học tập hoặc khả năng đương đầu với cuộc sống hàng ngày.  Trường hợp nặng nhất, trầm cảm có thể dẫn đến tự tử. Ở mức độ nhẹ, bệnh  nhân có thể được hỗ trợ chữa trị không cần dùng thuốc. Mức độ vừa và nặng,  người bệnh cần điều trị bằng thuốc kết hợp với liệu pháp tâm lý (WHO, 1992).  

Với các vấn đề sức khỏe tinh thần nói chung và trầm cảm nói riêng, các  mối quan hệ trong gia đình có thể vừa là tác nhân góp phần dẫn tới tình trạng  trầm cảm của một thành viên trong gia đình, vừa là hệ thống hỗ trợ giúp thành  viên gia đình vượt qua trầm cảm. Vì thế, đưa cả gia đình tham gia vào quá 

trình trị liệu trầm cảm là một phương thức hữu hiệu giúp giải quyết vấn đề hiện có của thân chủ, đồng thời giúp cải thiện các mối quan hệ trong gia đình, tạo ra môi trường phòng ngừa khả năng tái phát trầm cảm trong tương lai. Đây chính là lý do trị liệu gia đình được quan tâm.  

Trong điều trị trầm cảm, mục tiêu của liệu pháp gia đình là làm việc với  tất cả các thành viên trong gia đình nhằm thay đổi cách thức giao tiếp, thay thế những hình thức giao tiếp “tiêu cực”. Liệu pháp gia đình trong điều trị trầm  cảm thường hướng đến việc giải quyết các xung đột gia đình, thiết lập lại thói  quen và duy trì sự nhất quán trong việc nuôi dạy con cái. Khi một gia đình có sự tương tác và có những hoạt động tốt hơn thì đứa trẻ sẽ trở nên tích cực hơn (Glick, 2001). Do vậy, liệu pháp gia đình thường được sử dụng kết hợp với  các liệu pháp khi điều trị trầm cảm cho trẻ em và thanh thiếu niên (Diamond  và cs, 2005). Liệu pháp gia đình có thể được sử dụng riêng biệt. 

2. Khách thể và phương pháp nghiên cứu  

2.1. Mô tả trường hợp nghiên cứu 

H.N (tên đã được thay đổi) là một nữ sinh 17 tuổi, hiện đang học lớp 11  tại một trường chuyên ở Thành phố Hồ Chí Minh. 

H.N được bố mẹ đưa đến gặp chuyên gia tâm lý vì họ lo lắng về tình  hình sức khỏe hiện tại của con gái khi ở nhà. Những dấu hiệu ban đầu bao  gồm những dấu hiệu mất tập trung, mất ngủ, căng thẳng triền miên, bỏ ăn liên tục, có những ngày không chịu ăn gì cả, sụt cân rất nhiều trong một tháng vừa qua (7 kg trong 1 tháng). Trước đó, H.N thường xuyên đóng cửa ở lỳ trong  phòng và từng cắt tay tự tử nhưng được nên bố mẹ phát hiện kịp thời. Theo lời  bố mẹ, H.N tham gia kỳ thi nhưng không thể tập trung, không nhớ gì mặc dù  những ngày trước đó H.N đã ôn tập rất kỹ nên đã òa khóc ở trong phòng thi.  

Gia đình của H.N là một gia đình hạt nhân gồm 4 thành viên, gồm bố mẹ và một em gái lớn ít hơn H.N 10 tuổi. Bố mẹ H.N đều là những người hoạt  động đầu tư bất động sản và tài chính. Gia đình H.N là một gia đình khá giả,  luôn tạo điều kiện tốt nhất cho con. 

Theo các cuộc phỏng vấn lâm sàng, mối quan hệ của H.N với bạn bè  diễn ra bình thường, nhưng không có bạn nào quá thân thiết đặc biệt. H.N  không chơi thân với ai cũng không có mâu thuẫn với bạn bè trong lớp.  

2.2. Quy trình thực hiện nghiên cứu 

Bắt đầu tiếp nhận trường hợp trị liệu chúng tôi sử dụng các phương pháp sau để đánh giá các vấn đề của trường hợp nghiên cứu:  

- Trò chuyện và quan sát lâm sàng với thân chủ và cha mẹ. 

- Sử dụng trắc nghiệm tâm lý: Bảng hỏi điểm mạnh và điểm yếu - SDQ;  Bảng hỏi sức khỏe giành cho bệnh nhân - PHQ 9. 

Tiến trình thực hiện ca nghiên cứu diễn ra trong 6 buổi trong đó: 

- Buổi 1: Làm việc với thân chủ và bố mẹ nhằm thiết lập mối quan hệ lâm sàng, tư vấn và xác định các vấn đề của trường hợp thông qua các phương pháp đánh giá tâm lý. 

- Buổi 2: Làm việc với thân chủ nhằm hỗ trợ thân chủ bộc lộ những dồn  nén bên trong, giúp thân chủ hiểu và nhận diện rõ nguyên nhân xuất hiện vấn  đề của mình 

- Buổi 3, 4, 5: Làm việc với thân chủ và gia đình thông qua cây phả hệ gia đình, giúp các thành viên trong gia đình thay đổi cách ứng xử và cung cấp  các kỹ năng để hỗ trợ thân chủ một cách phù hợp.  

- Buổi 6: Tổng hợp và đánh giá lại các vấn đề của thân chủ; Đưa ra định  hướng hỗ trợ từ phía gia đình, cách thức bố mẹ hỗ trợ thân chủ trong thời gian  sắp tới với các vấn đề nguy cơ có thể xuất hiện; Kết thúc và theo dõi can thiệp,  trị liệu. 

Thực hiện theo dõi định kỳ sau 3 tháng, thân chủ và gia đình quay lại để đánh giá lại và hỗ trợ các vấn đề nguy cơ có thể xuất hiện. 

3. Kết quả nghiên cứu  

3.1. Chẩn đoán ban đầu về tình trạng của H.N. 

Chẩn đoán về tình trạng của H.N được đưa ra dựa trên kết quả SDQ,  PHQ-9 và qua quan sát và hỏi chuyện lâm sàng.  

Trong buổi làm việc thứ nhất, H.N được yêu cầu hoàn thành các trắc  nghiệm trên, đồng thời nhà trị liệu tiến hành hỏi chuyện lâm sàng về những  vấn đề của thân chủ và thời điểm bắt đầu xảy ra vấn đề.  

Bảng 1. Tổng hợp kết quả bảng hỏi điểm mạnh và điểm yếu - SDQ 

Bai 2 bang 1
Kết quả tự đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của H.N cho thấy thân chủ đang gặp khó khăn trong các lĩnh vực cảm xúc, hành vi, tăng động và vấn đề hòa nhập, trong các tiểu lĩnh vực này đều ở mức độ nguy cơ cao. Điều đó dẫn  đến tổng điểm các khó khăn đều ở mức độ nguy cơ cao. 

Đối với thang PHQ-9, kết quả tổng điểm của H.N là 16, cho thấy mức độ chán nản đang ở mức khá trầm trọng cần tiến hành trị liệu tâm lý. 

Qua quá trình quan sát và hỏi chuyện lâm sàng cho thấy, H.N thấy mình  bị rụng tóc nhiều, ám ảnh bởi cân nặng và ngoại hình, cảm thấy mình xấu xí,  không xinh đẹp, không tự tin với ngoại hình “đôi lúc thấy mình béo”. H.N  thường muốn ở một mình, và nhận ra từ bé đến giờ mình đều thích như thế. Từ 

khoảng 5 tuổi, bố mẹ thường xuyên bận công việc không có thời gian quan  tâm giành cho H.N, nên H.N thường ở một mình.  

Lớp 1, lớp 2, H.N học trường Quốc tế, là người vui vẻ, hòa đồng, nói  nhiều. Từ năm lớp 3 trở đi, vì H.N chuyển nhà nên phải chuyển vào học trường  công lập.Trong môi trường học mới khép kín hơn, khả năng học hành không  cao, thường xuyên bị học lệch (cả lúc lên cấp 2 và cấp 3) thường hướng về các  môn tự nhiên và thấp điểm môn xã hội. H.N rất ít bạn và không có bạn thân. 

Lên cấp 2, H.N chuyển nhà nên lại phải học một trường khác, H.N  thường xuyên bị bạn bè trêu chọc (H.N tỏ ra căng thẳng, run tay chân, hai tay  bấm vào nhau liên tục khi nói về các bạn bè trêu), hầu như cả 4 năm cấp 2,  H.N thường xuyên bị các bạn trêu vì H.N giữ chức “sao đỏ”. Với H.N việc  bạn bè trêu khiến cho H.N cảm thấy khó vượt qua nỗi sợ ấy.  

Lên cấp 3, mẹ mong muốn H.N học Trường phổ thông năng khiếu, nhưng H.N thích học Trường chuyên L.H.P. Mặc dù có khả năng vào học trường năng khiếu nhưng H.N vẫn quyết định thi vào trường chuyên L.H.P và học chuyên  Sinh. H.N nhận thấy thích trường mới, vào trường có sự cạnh tranh giữa các bạn  nhưng lành mạnh. Vì H.N tập trung học để đi du học, nên không tham gia vào  các kỳ thi tuyển chọn và tập trung vào ôn thi IELTS. H.N có mong muốn đi du học ở Úc nhưng mẹ lại muốn H.N đi Ba Lan, Đức hoặc Pháp (vì có người nhà ở đó). Lúc nói về những mong muốn này, H.N cũng tỏ ra căng thẳng, tay chân  khó kiểm soát và run, ngọ nguậy, hai tay bấm vào nhau. 

H.N chia sẻ: H.N thường xuyên cảm thấy lo lắng, chủ yếu lo lắng về vấn  đề học tập, mất định hướng, không biết làm gì, mất tập trung, thường xuyên  cảm thấy trống rỗng, không suy nghĩ được gì. Đặc biệt là những lúc sắp đến  kỳ thi, hay đang làm bài thi H.N thường như vậy, không nhớ gì, quên các công  thức mặc dù đã ôn rất kỹ, cảm giác trống rỗng không nhớ gì. Những lúc như 

vậy, H.N thường thích ở một mình trong phòng, có đôi lúc khóc vô cớ, cảm  xúc thất thường, cảm thấy chới với khi mở cửa ra. H.N bắt đầu có những cảm  giác như vậy từ năm mình lớp 9, khi các kỳ thi nhiều hơn, căng thẳng hơn thì việc đó diễn ra liên tục. H.N thích kéo hết rèm, tắt điện, trùm hết chăn ở trong  phòng một mình không có ai quan tâm, cảm giác thích bóng tối.  

H.N có nhiều nỗi sợ hãi: sợ phải nói chuyện, sợ đám đông vì nơi đó mình cảm thấy không thuộc về, sợ tiếp xúc với người lạ, không thích nói chuyện với  người lạ, trong đám đông cũng thích ngồi một chỗ đọc sách hơn là phải ngồi  nói chuyện với người khác. 

Dựa trên các thông tin thu thập ở trên, có thể thấy H.N có đủ các triệu  chứng trầm cảm, bao gồm khí sắc trầm, mất hứng thú và giảm năng lượng. H.N  đã từng có hành vi và ý tưởng tự sát, có phần đánh giá thấp về bản thân, lòng tự trọng thấp. Vì thế, H.N đáp ứng chẩn đoán trầm cảm ở mức độ nặng. Về hoạt  động tại thời điểm trước khi bắt đầu thực hiện trị liệu cho thấy thiếu sự tương tác và kết nối với các mối quan hệ gia đình và các mối quan hệ xã hội khác, bản  thân H.N cũng gặp một số căng thẳng liên quan đến yếu tố gia đình.

Buổi làm việc thứ hai 

Ở buổi làm việc này, nhà trị liệu để H.N được bộc lộ những trải nghiệm  của bản thân liên quan đến gia đình để làm rõ cơ chế hoạt động trong gia đình của mình. Dựa trên mô tả này, nhà trị liệu đã vẽ được cây phả hệ giúp chỉ rõ  cấu trúc các mối quan hệ tương tác trong gia đình. 

Trong dòng suy nghĩ, H.N đã thể hiện rõ sự thiếu thân thiết với bố, điều này được phản ánh trong những suy nghĩ phi lý trí của H.N liên quan đến mối  quan hệ của họ. H.N nói với nhà trị liệu rằng,cô ấy đã cố gắng rất nhiều nhưng chưa bao giờ nhận được sự thừa nhận của bố.Bố cô luôn nghiêm khắc với  cô,trong khi đó em cô thì bố không như vậy. H.N cảm thấy cả bố mẹ đều thích  em gái hơn, họ không khắt khe với em gái như với cô, em gái cô dễ thương được mọi người yêu quý còn mình thì không như vậy. Hồi H.N còn bé cũng đã từng như em gái, thích hát hò, nhảy múa làm mọi người vui, nhưng vì bố không thích nên cô không làm như vậy nữa. Những lời nói của H.N phản ánh  sự cư xử khác biệt của bố mẹ giành cho cô và em gái. 

Khi H.N còn nhỏ, H.N rất thích trở thành tâm điểm của đám đông, thích hát, thích nhảy, thích nghệ thuật, thích gây sự chú ý cho mọi người. Nhưng bây giờ,H.N không thích như vậy nữa. Đến chỗ đông người, H.N thích ngồi  vào một góc không ai để ý đến mình là tốt nhất, mong như mình không tồn tại  ở đó. H.N cũng giải thích lý do: vì bố không thích, bố nghĩ ca hát nhảy múa là  những thứ vô bổ, H.N nhớ có một lần bố đã đập hết tất cả những đĩa ca nhạc,  từ đó H.N không nhảy múa và hát nữa.Lớn lên H.N nghĩ là mình không thích  nữa, H.N cho rằng mình nhận thức được không nên như thế nữa, đó không phải lỗi của bố mà vì bố nghĩ những điều đó vô bổ không có ích cho bản thân  mình sau này. 

Trong gia đình em gái luôn là tâm điểm “nó còn nhỏ, nó thích ồn ào, nó  thích gây sự chú ý, thích làm trung tâm, với người khác”. Tính từ thời điểm  chưa có em, bố mẹ đều bận việc cũng không có thời gian quan tâm H.N, nên  H.N toàn phải tự mình làm mọi thứ không có ai giúp đỡ. Lên lớp 3, lớp 4, lớp  5, H.N lớn hơn cũng nhận ra mình chẳng có gì cả, H.N cũng nhận thức được là  bản thân không thích gây sự chú ý nữa vì đó là một điều buồn cười.

bai 2 hinh 1

Hình 1. Cây phả hệ gia đình H.N. 

Chú thích: Mũi tên chỉ quan hệ thân thiết, đường ziczac thể hiện  quan hệ xung đột 

H.N không xác định rõ được mong muốn của bản thân nhưng vẫn thường  xuyên bị ám ảnh về kết quả học tập, không rõ nguồn gốc bắt đầu từ đâu. Nhưng từ bé đến lớn đều mong muốn được bố mẹ khen, nên mỗi lần bị điểm  thấp H.N sẽ cảm thấy bị hụt hẫng, thất vọng và chán nản về bản thân. H.N nói  về bố: “Gống như một ngọn núi rất khó có thể vượt qua được, rất là giỏi giống  như thần tượng, chỉ có thể đứng nhìn thôi, rất xa và rất khó, không chạm tới,  có thể cả đời cũng không vượt qua được. Lúc bé rất thân với bố nhưng bây giờ thì không. Bố con khá gia trưởng. Từ khi con lớn lên bố đặt nhiều kỳ vọng về con (òa khóc nức nở), bố đưa con vào khuôn khổ (khóc), con nghĩ không có bố thì không có con ngày hôm nay, các ngưỡng bố đặt ra cho con càng ngày  càng nhiều, thì càng nhiều kỳ vọng. Cả bố và mẹ đều kỳ vọng nhưng mẹ thì ít  hơn, nhưng cảm giác bố nhiều hơn nếu không đạt được thì bố sẽ thất vọng,  không đạt được làm cho mình cảm giác rất day dứt, lúc ấy mình sẽ cảm thấy  không tốt, không thoải mái chút nào cả.” H.N nói thêm về cách đối xử giữa bố mẹ và em: “con nghĩ là khác, trước đây bố mẹ không có kinh nghiệm, ngày xưa nghiêm khắc với con hơn; bố thích em con hơn vì nó nhanh nhẹn, hoạt bát,  dễ thương (rơm rớm lau mắt), có một chút chút ghen tị nhưng vì tính cách của  nó dễ chịu hơn, nó biết cách làm cho người lớn hài lòng, nó vui vẻ hòa đồng  không như con, con sợ bị đánh giá.” 

Như vậy, có thể thấy trong gia đình H.N tồn tại các khối liên minh như bố - mẹ - em gái, bố - chị, chị - em gái. Trong đó, mối quan hệ có vấn đề là  mối quan hệ giữa H.N và bố. Dù bố của H.N làm tốt vai trò “người làm luật” trong gia đình nhưng sự kỳ vọng cao từ bố đã gây nhiều áp lực cho H.N, khiến  em tự ti. Sự suy giảm lòng tự trọng dẫn tới triệu chứng lo âu rõ rệt khi tới kỳ thi, hình ảnh bản thân thấp và sự lo lắng khi được giao vị trí giám sát người  khác. Sự khác biệt trong đối xử của bố mẹ với H.N và em gái tiếp tục ảnh  hưởng đến lòng tự trọng của H.N. Cũng cần thấy rằng một số kiểu suy nghĩ của H.N đã làm trầm trọng thêm và duy trì vấn đề tâm lý của em, như lối suy  nghĩ “tất cả hoặc không có gì” (phải đạt được thành tích cao thì bố mới vui  lòng, nếu không thì mình chẳng là gì), lối suy nghĩ dán nhãn tiêu cực cho bản  thân (bố mẹ thích em vì nó nhanh nhẹn, dễ thương, còn mình thì không như vậy). Một yếu tố khác cũng góp phần duy trì vấn đề của H.N là sự đứt gãy  trong quan hệ giao tiếp giữa H.N và bố mẹ. Từ nhỏ, H.N đã được học thói  quen tự giải quyết mọi việc, tránh gây sự chú ý, vì vậy khi các mâu thuẫn  trong gia đình xảy ra (như bất đồng về chuyện đi du học, sở thích âm nhạc của  H.N), H.N không biết cách giao tiếp các vấn đề của mình cho bố mẹ cũng như không biết cách giải quyết vấn đề cùng với bố mẹ.  

3.2. Sử dụng liệu pháp gia đình để trị liệu trầm cảm cho H.N.  

Ngay từ buổi thứ hai, sau khi lắng nghe H.N bộc lộ, nhà trị liệu hỗ trợ cô  bình thường hóa những khó khăn của bản thân. Đây là bước quan trọng để giúp H.N nhận ra những kiểu suy nghĩ thiên lệch mà mình đang có và tác hại  của chúng; đồng thời hướng H.N tới những kiểu suy nghĩ thay thế tích cực  hơn. Nhà trị liệu cũng định hướng xóa bỏ những rào cản từ các mối quan hệ với bố mẹ và mọi người. 

Buổi làm việc thứ ba đến thứ sáu 

Trong các buổi làm việc này là các buổi làm việc cùng với các thành viên  trong gia đình, giúp các thành viên trong gia đình hiểu và nhận diện đúng những vấn đề mà H.N đang gặp phải để cùng nhau hỗ trợ cô.  

Nhà trị liệu đã phân tích, diễn giải cho bố mẹ hiểu về vấn đề H.N đang gặp khó khăn nhiều nhất là mối quan hệ với bố mẹ, đặc biệt là bố. Giúp bố mẹ cô hiểu được hình ảnh của bản thân trong mắt H.N, hiểu được việc bố đã tạo  rào cản làm nên căng thẳng và những vấn đề dẫn đến các triệu chứng của H.N.  Bố N đặt ra nhiều kỳ vọng cho H.N làm cho cô luôn cảm thấy căng thẳng. 

Nhà trị liệu đã để bố mẹ và H.N có thời gian được bộc lộ và thấu hiểu.  Bố thừa nhận điều đó trước mặt H.N và khích lệ H.N nói ra hết những suy  nghĩ, quan điểm của mình cho bố hiểu. H.N nói về những điều thích nhất và  không thích nhất ở bố cho bố nghe. Bố xin lỗi H.N vì thời gian vừa qua đã tạo  ra cho H.N những áp lực vô hình. Các thành viên trong gia đình cũng bàn luận  về cách ứng xử của bố mẹ với em gái và cách ứng xử của bố mẹ với H.N là  hai cách ứng xử không giống nhau. Bố mẹ cũng thừa nhận lỗi của bố mẹ là ép  cho H.N học quá nhiều và đặt quá nhiều kỳ vọng vào H.N, mà không thực sự quan tâm đến H.N thích gì và gặp những khó khăn gì. Không có thời gian  quan tâm chia sẻ, ở bên khích lệ H.N và đưa ra những quyết định mang tính áp  đặt mà không quan tâm đó có phải là điều H.N thực sự cần hay không.  

Tiếp đến nhà trị liệu đưa ra chiến lược dành cho bố mẹ: Trong thời gian  tới bố mẹ sẽ để cho H.N được tự quyết định mọi việc, được tự chọn các hoạt  động học thêm, các chương trình học, trường học, hướng đến các hoạt động  mà H.N thích, bố mẹ chỉ ở cạnh khuyến khích, tư vấn và hỗ trợ những khó  khăn khi H.Ngặp phải trong quá trình thực hiện. Đồng thời, bố mẹ cần có sự dần thay đổi cách cư xử giữa H.N và em gái, cần có sự công bằng và giảm các  kỳ vọng về thành tích học tập, các yêu cầu khác đối với H.N để giảm các áp  lực vô hình cho H.N. 

Đồng thời trong những buổi làm việc này, nhà trị liệu hướng cho H.N  cách ứng phó tích cực hơn: Định hướng cho H.N chia sẻ với bố mẹ nhiều hơn; Chia sẻ quan điểm của bản thân nhiều hơn; Tự mình xây dựng các kế hoạch cá  nhân, chọn các lớp học ngoại ngữ, khóa học mà mình muốn; Tham gia các  hoạt động xã hội; Cân nhắc về việc lựa chọn quốc gia đi du học và lên kế hoạch để chuẩn bị các kỹ năng cần thiết. 

Nhà trị liệu cũng định hướng cho bố mẹ cách đồng hành cùng H.N trong  quá trình cải thiện các dấu hiệu trầm cảm của H.N. Đồng thời nhà trị liệu tư vấn cho bố mẹ về tầm quan trọng của việc thiết lập các quy tắc chung và các  ranh giới khi ở nhà, đặc biệt là cách ứng xử công bằng giữa hai chị em. Bên  cạnh đó, lưu ý thêm về việc không nên để cho H.N ở một mình trong phòng  quá lâu, hoặc quá nhiều. Để tăng sự tự tin và đánh giá cao về bản thân, bố mẹ có thể hướng H.N tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động thể thao, nghệ thuật mà có sự tham gia của cả gia đình để tăng tính kết nối.

3.3. Kết quả sử dụng liệu pháp gia đình để trị liệu trầm cảm cho H.N. 

Sau 2 tháng trị liệu tâm lý bằng liệu pháp gia đình, các biểu hiệu trầm  cảm của H.N có sự thay đổi rõ rệt, thể hiện rõ ở sự thay đổi các kết quả trắc  nghiệm tâm lý. 

Bảng 2. Sự thay đổi kết quả bảng hỏi điểm mạnh và điểm yếu - SDQ 

Bai 2 bang 2

Kết quả tự đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của H.N trong buổi lượng giá  kết thúc cho thấy, các vấn đề về cảm xúc, hành vi, tăng động và vấn đề hòa  nhập của H.N có xu hướng giảm xuống ở mức độ nguy cơ thấp và tổng điểm vấn đề đang ở ngưỡng nguy cơ trung bình. Do đó, cần có quá trình theo dõi và  hỗ trợ từ phía gia đình và nhà trị liệu sau khi dừng hoạt động trị liệu.  

Đối với tổng điểm về Bảng hỏi sức khỏe bệnh nhân - PHQ-9 H.N tự báo  cáo kết quả là 6 (trước khi trị liệu là 16), cho thấy mức độ đánh giá các triệu  chứng trầm cảm nổi bật của H.N đã giảm và ở mức độ nhẹ cần sự theo dõi và  thực hiện lại bảng hỏi sau thời gian theo dõi trong quá trình dừng trị liệu.  

H.N cũng giảm các triệu chứng chán ăn, mất ngủ, mất tập trung, các cảm  xúc chán nản, mất hứng thú và có sự tự tin hơn, và nhìn nhận tích cực khi gặp  nhà tâm lý. Các thành viên trong gia đình có cả H.N đồng ý kết thúc trị liệu  sau 6 buổi làm việc trực tiếp và cam kết sẽ theo dõi, đồng hành hỗ trợ và ứng  phó các vấn đề nguy cơ mà H.N có thể gặp phải trong thời gian dừng trị liệu.  

Bàn luận 

Qua các kết quả đánh giá và tiến trình làm việc cho thấy, nguyên nhân  các vấn đề của H.N phần lớn xuất phát từ những mối quan hệ gia đình. Cụ thể hơn là từ những kỳ vọng thời ấu thơ, những yêu cầu khắt khe và sự áp đặt của  bố mẹ, cũng như những cách ứng xử khác nhau của bố mẹ và các con trong  gia đình. Để cải thiện được vấn đề của H.N, cần xem xét lại cơ chế vận hành  của các mối quan hệ gia đình và cách thức giao tiếp giữa các thành viên trong  gia đình. Trong trường hợp của H.N, khi các mối quan hệ trong gia đình được cải thiện và bản thân thân chủ được trị liệu, đã có những chuyển biến tích cực  về tình trạng bệnh trầm cảm.  

Như vậy, sử dụng liệu pháp gia đình nhằm thay đổi sự thay đổi tương tác giữa cha mẹ và con cái trong gia đình có thể góp phần cải thiện các triệu  chứng trầm cảm. Ở đây, nhà tâm lý với vai trò hỗ trợ các thành viên trong gia  đình tìm ra cách thức giao tiếp với nhau hiệu quả hơn, thông qua việc bộc lộ những mong muốn và thấu hiểu các thành viên trong gia đình, giúp các thành  viên trong gia đình điều chỉnh, cân bằng và tìm ra xu hướng thay đổi một cách  phù hợp. Khi các mối quan hệ gia đình được cải thiện thì các vấn đề của H.N  bao gồm các dấu hiệu trầm cảm, cảm xúc, các vấn đề liên quan đến học tập  của H.N cũng được cải thiện. Khi các thành viên trong gia đình thấu hiểu lẫn  nhau, và có sự hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời cải thiện được các vấn đề còn lại của  các thành viên khác.  

Nghiên cứu trường hợp điển hình này cho thấy liệu pháp gia đình có thể giúp thanh thiếu niên quản lý và tăng các hành vi tích cực để cải thiện tâm  trạng của họ. Liệu pháp gia đình có thể được sử dụng đơn nhất hoặc kết hợp  với các liệu pháp khác trong những trường hợp có xung đột đáng kể giữa cha  mẹ và con cái góp phần gây ra các triệu chứng trầm cảm. 

4. Kết luận  

Từ kết quả nghiên cứu ứng dụng liệu pháp gia đình thông qua nghiên cứu trường hợp chúng tôi nhận thấy:  

Những vấn đề của cá nhân có thể liên quan đến các yếu tố trong các mối  quan hệ gia đình, vì vậy khi xem xét các vấn đề cá nhân cần đặt họ trong bối  cảnh gia đình, cách vận hành của gia đình. Để cải thiện các vấn đề cá nhân  không chỉ tập trung các biện pháp tác động cá nhân mà cần có sự hỗ trợ và liên  minh từ phía gia đình để tạo nên hiệu quả tối ưu trong quá trình trị liệu.  

Nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu trên một trường hợp cụ thể. Các  nghiên cứu tiếp theo có thể tiến hành tìm hiểu sâu hơn và trên bình diện rộng  hơn về hiệu quả của liệu pháp gia đình trên các nhóm đối tượng khách thể khác nhau.  

Tài liệu tham khảo 

Đại học Y khoa Thái Nguyên (2008), Giáo trình tâm thần học, Nhà xuất bản Y  học, trang 98-113, 202-205.

Tổ chức Y tế thế giới (1992), Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn  tâm thần và hành vi. 

AHCPR Depression Guideling Panel (1993), Depression in Primary Care Vol  2. Treatment of Major Depression. Clinical Practice Guidelines 5. AHCPR  Publication 930551. Rockville, md: Department of Health and Human Services. 

Churchill R, Hunot V, Corney R, Knapp M, McGuire H, Tylee A, et al. (2001), A systematic review of controlled trials of the effectiveness and  costeffectiveness of brief psychological treatments for depression. Health  Technology Assessment;5(35):1173 

Cottrell D, Boston P. (2002), Practitioner review: the effectiveness of systemic  family therapy for children and adolescents. Journal of Child Psychology and  Psychiatry;43(5):57386. 

Diamond G, Josephson A. (2005), Family-based treatment research: a 10-year  update. J Am Acad Child Adoles Psychiatry.;44(9):872-887. 

Glick ID. (2001), Marital and Family Therapy. Washington, DC: American  Psychiatric Press, Inc. 

Goodman R, Ford T, Simmons H, Gatward R, Meltzer. (2003), Using the  Strengths and Difficulties Questionnaire (SDQ) to screen for child psychiatric  disorders in a community sample.H.Int Rev Psychiatry.;15(1-2):166-72.  

Griffith JL, Slovik L. (2008), Psychiatry. Third Edition. Hoboken, NJ: Wiley. 

Henken T, Huibers MJ, Churchill R, Restifo KK, Roelofs JJ. (2007), Family  therapy for depression. Cochrane Database of Systematic Reviews 2007,  Issue 3.  

James c. Coyne and Suzanne Fechner-Bates. (1992), Depression, the Family,  and Family Therapy. A.N.Z. J. Fam. Ther., Vol. 13, No.4, pp. 203-208. 

Jones S (1980), Family Therapy: A Comparison of Approaches. Bowie, MD:  Prentice-Hall. 

Sexton, T.L., Weeks, G.R, & Robbin, M. S. (Eds.), (2003), Handbook of  family therapy: The Science and practice of working with family and couples,  Brunner-Routledge.