Giáo dục KNS cho học sinh đặc biệt

Học sinh (HS) khuyết tật trí tuệ (KTTT) và rối loạn phổ tự kỉ (RLPTK) đều thuộc nhóm rối loạn phát triển với 2 đặc trưng cơ bản: Hạn chế về các kĩ năng sống; Hạn chế về nhận thức kéo dài trong suốt quá trình phát triển.

Các em khó có thể tự thực hiện được một số kĩ năng sống đơn giản trong cuộc sống hàng ngày, chẳng hạn: những kĩ năng làm quen với các bạn đồng trang lứa, kĩ năng giải quyết vấn đề… Vì vậy, nhóm HS này thường khó thành công trong học tập và gặp nhiều khó khăn khi hòa nhập với cộng đồng.


Kĩ năng sống (KNS) không chỉ giúp con người tồn tại mà còn giúp họ biết bảo vệ chính mình để có cuộc sống an toàn trong tương lai, định hướng phù hợp cho hạnh phúc của chính mình... Các KNS sẽ được hình thành dần dần, nhưng cũng có nhiều KNS có thể được học tự phát. Hơn nữa, các KNS không phải dễ dàng học và rèn luyện được ngay, một số HS phải dạy đi dạy lại, phải rèn luyện kĩ năng nhiều lần; một số HS khác lại có thể có những KNS tốt trong lĩnh vực này mà không tốt trong lĩnh vực khác...


HS ngay từ lứa tuổi tiểu học cần được học tập và rèn luyện các KNS cơ bản, điều này còn quan trọng hơn đối với các HS KTTT và RLPTK. Các KNS giúp cho HS KTTT và RLPTK có thể cùng chung sống với mọi người và phát triển tốt nhất các khả năng của mình để có thể sống độc lập và hòa nhập với mọi người trong cuộc sống.
Sau đây là một số biện pháp giáo dục KNS cho HS KTTT và RLPTK học hòa nhập ở tiểu học.

Biện pháp 1: Làm mẫu
Làm mẫu những hành vi (lời nói, nét mặt và cử chỉ điệu bộ về những KNS phù hợp) nhằm cung cấp thêm những ví dụ cho HS KTTT và RLPTK bắt chước theo. Người lớn hoặc các bạn học có thể chỉ ra một điều gì đó được làm như thế nào bằng cách miêu tả, qua các đoạn video, qua xem phim, truyện tranh, qua mô hình... giúp HS KTTT và RLPTK quan sát và trải nghiệm. Giáo viên (GV) và bạn học là những người thể hiện/diễn mẫu các thao tác KNS để HS KTTT và RLPTK biết các hành vi, thao tác được thực hiện như thế nào. Các thao tác, hành vi này được xem là các mẫu “hành vi chuẩn”, được mọi người xung quanh và xã hội chấp nhận. Cụ thể:
- GV hướng dẫn: Khi các KNS được lên mục tiêu hướng dẫn, GV miêu tả các KNS, trao đổi cùng HS KTTT và RLPTK về tầm quan trọng của việc sử dụng các KNS này trong những tình huống xã hội. GV sử dụng nhiều câu hỏi hoặc những câu gợi ý để giúp HS hiểu tầm quan trọng của việc học kĩ năng này; sau đó, làm mẫu những hành vi thể hiện các KNS phù hợp, cho HS KTTT và RLPTK trải nghiệm và phản hồi đối với các hành vi đã làm mẫu. Xây dựng và sử dụng các hình thức minh họa cách thể hiện hành động (tranh ảnh, băng hình, truyện tranh, mô hình…). Sử dụng băng hình có thể giúp HS KTTT và RLPTK dễ hiểu hơn về các tình huống và cách thể hiện ngôn ngữ trong hội thoại; đây là phương tiện trực quan rất hữu ích để dạy cho HS KTTT và RLPTK. Sử dụng tranh ảnh, truyện tranh kết hợp với giải thích, hướng dẫn qua các câu hỏi về yêu cầu đối với KNS cụ thể ở các tình huống tương tác bạn bè đa dạng (trong lớp học, trong các trò chơi tập thể, giờ học, giờ ra chơi). Nên sử dụng biện pháp này khi giới thiệu các hành vi, kĩ năng mới cho HS KTTT và RLPTK hoặc củng cố các kiến thức về bối cảnh thực hiện KNS.


- Bạn hướng dẫn: Trong cách luyện tập này, những HS cùng lớp sẽ được chọn để hướng dẫn KNS cho HS KTTT và RLPTK. Những HS được chọn không chỉ dựa trên tiêu chí là thành thục về KNS mà còn dựa trên mối quan hệ bạn bè đã có với HS KTTT và RLPTK. Trước khi bắt đầu hướng dẫn HS cách hỗ trợ HS KTTT và RLPTK học KNS, GV cần chia sẻ với những HS trong nhóm hỗ trợ về mục tiêu cần đạt được; tiếp theo, các HS sẽ cùng nhau lựa chọn những hoạt động xã hội để cùng tham gia, HS KTTT và RLPTK được hướng dẫn thực hiện, có phản hồi tích cực và sử dụng những hành vi xã hội đã được lên mục tiêu.

kns rong viet 5


Biện pháp 2: Sử dụng câu chuyện xã hội
“Câu chuyện xã hội” là những truyện kể với nội dung để miêu tả tình huống, khái niệm hoặc KNS làm theo một khuôn mẫu. Câu chuyện mô tả các tình huống xã hội, quan điểm của nhân vật, các hành vi xã hội phù hợp và những kết quả đạt được khi thực hiện hành vi xã hội phù hợp. Nhờ đó, câu chuyện xã hội đáp ứng được yêu cầu và cải thiện được các KNS của HS KTTT và RLPTK. GV cần đặc biệt lưu ý khi đưa ra những tình huống xã hội giữa các HS trong lớp hòa nhập với HS KTTT và RLPTK.


Các câu chuyện xã hội được xây dựng dựa trên những tình huống xã hội gần gũi, thường nhật mà HS KTTT và RLPTK thể hiện bối rối, khó chịu khi gặp phải. Do đó, những tình huống xã hội này cần được lặp đi lặp lại nhiều lần trong một khoảng thời gian ngắn (một giờ, một tiết học, một buổi học, một ngày học, một tuần học). Đây chính là điều kiện thuận lợi để HS KTTT và RLPTK có thể thực hành ứng dụng những kĩ năng học được trong câu chuyện xã hội một cách thực tế nhất. Qua đó, GV cũng dễ dàng đánh giá được hiệu quả của câu chuyện tác động đến hành vi, thái độ của HS KTTT và RLPTK. Việc sử dụng các câu chuyện xã hội có thể thực hiện như sau:
- Giới thiệu câu chuyện sắp kể như một món quà dành riêng cho HS KTTT và RLPTK. Nếu là dạy cá nhân, vị trí khi ngồi đọc truyện là ngồi bên cạnh HS hoặc ngồi hơi lùi về phía sau lưng của HS, đảm bảo HS KTTT và RLPTK vẫn nghe rõ, nhìn rõ câu chuyện và không bị mất tập trung vào khuôn mặt của GV. Nếu là dạy nhóm, vị trí khi đọc truyện là phía trước mặt HS KTTT và RLPTK và có một thước dài để chỉ tranh và chữ. Truyện kể cần được mô tả lại trên giấy bằng hình ảnh rõ nét, dễ hiểu. GV cần đưa ra lần lượt cho đến hết và cuối cùng là các câu hỏi để cùng tìm hiểu câu chuyện, qua đó HS KTTT và RLPTK hiểu được nội dung cần truyền tải (KNS cần hình thành) để thực hiện đúng trong quá trình học ở lớp, ở trường và áp dụng trong các tình huống xã hội.


- Các câu chuyện xã hội dạy KNS cho HS KTTT và RLPTK sẽ được kể một lần trong một ngày và vào một thời gian cố định nhằm chuẩn bị tâm thế, hình thành thói quen tiếp nhận câu chuyện của HS. Thông thường, câu chuyện được kể ngay trước khi KNS cần dạy được thực hiện (ví dụ, đọc câu chuyện về giúp đỡ bạn trước khi HS tham gia một hoạt động nhóm). Trong khi kể chuyện, có thể dừng lại ở một vài chi tiết quan trọng nào đó để kiểm tra phản ứng cũng như sự chú ý của HS KTTT và RLPTK; thường xuyên hỏi HS KTTT và RLPTK về các nhân vật cũng như tình tiết trong câu chuyện.


Biện pháp 3: Thông qua các tình huống thực tế
Một số KNS cần được dạy cho HS KTTT và RLPTK thông qua những tình huống thực tế, vì tình huống thực tế có thể đảm bảo cả về nhu cầu, về học KNS và hiểu những bối cảnh thực hiện kĩ năng. Thực chất của biện pháp này là dạy HS KTTT và RLPTK các KNS tại đúng thời điểm diễn ra các hoạt động đó. GV lựa chọn nội dung phù hợp với thời gian hoạt sinh hoạt và học tập HS KTTT và RLPTK tại trường tiểu học, dạy cách thức thực hiện các kĩ năng sống theo từng tình huống thực và sử dụng tình huống để xây dựng các bài tập xử lí tình huống.


GV có thể sử dụng các tình huống tình cờ bắt gặp để sửa và hướng dẫn cách thực hiện hành động cho HS KTTT và RLPTK; xây dựng các bài tập tình huống để HS KTTT và RLPTK có những lựa chọn giải quyết vấn đề. Tình huống có thể nêu ra dưới nhiều dạng như sau: 1) Tình huống từ cách ứng xử: GV đưa ra các tình huống và yêu cầu HS KTTT và RLPTK nhận xét, đánh giá về cách ứng xử của các nhân vật trọng tình huống và nêu cách ứng xử phù hợp; trong đó, cho HS KTTT và RLPTK được tham gia trải nghiệm thực tế. Tuy nhiên, cần cung cấp những cơ hội có tính xã hội mà ở đó HS KTTT và RLPTK được an toàn hoặc được phép mắc những lỗi mà không bị người khác chế nhạo; 2) Tình huống từ bối cảnh hoạt động: Thông qua những dấu hiệu của bối cảnh môi trường để HS KTTT và RLPTK biết cách thực hiện KNS phù hợp trong những môi trường cụ thể. GV cần lựa chọn KNS cần giáo dục cho HS KTTT và RLPTK, thời điểm tiến hành giáo dục KNS đó; đồng thời, nhận xét, khen ngợi, khái quát lại cách thực hiện kĩ năng đó cho HS KTTT và RLPTK nhớ.


Tài liệu tham khảo
Nguyễn Thanh Bình (2007). Giáo trình giáo dục năng sống. NXB Đại học Sư phạm.
Nguyễn Thị Hoàng Yến - Đỗ Thị Thảo (2012). Đại cương giáo dục trẻ khuyết tật trí tuệ. NXB Đại học Sư phạm.
Bộ GD-ĐT (2006). Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật bậc tiểu học. NXB Lao động - Xã hội.
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2001). Giáo dục hòa nhập và cộng đồng. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.
Lê Văn Tạc - Nguyễn Đức Minh - Phạm Minh Mục (2006). Giáo dục trẻ khuyết tật Việt Nam - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn. NXB Giáo dục Việt Nam.
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (1999). Hỏi - đáp về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Việt Nam. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.